Home Chuyên ngành CÁC CHUYỂN ĐỘNG VÀ CHẾ ĐỘ HÀN KHÍ

CÁC CHUYỂN ĐỘNG VÀ CHẾ ĐỘ HÀN KHÍ

by minhhoang
129 views

1 .Những chi tiết được sử dụng trong hàn khí

Trước khi hàn, tùy theo chiều dày của chi tiết và yêu cầu kỹ thuật, tiến hành vát mép. Hình dạng, các kích thước kết cấu của mép chi tiết phải chọn đúng như tiêu chuẩn quy định đối với phương pháp hàn khí. Vát mép có thể dùng phương pháp cơ khí (phay, bào,…) khi sản xuất hàng loạt, hoặc bằng dũa, bằng đá mài tay khi sản xuất đơn chiếc. Cũng có thể dùng mỏ cắt khí để vát mép.

Cần tiến hành làm sạch mép các chi tiết hàn về cả hai phía, chiều rộng mỗi phía khoảng 10-20 mm. Việc làm sạch gỉ, dầu mỡ và các chất bẩn khác có thể thực hiện bằng ngọn lửa đốt trước, sau đó mới làm sạch tiếp bằng bàn chải sắt, hoặc có thể sử dụng phương pháp phun cát hay dùng hoá chất.
Việc làm sạch mép các chi tiết hàn trước khi hàn rất quan trọng, vì nó ảnh hưởng rất lớn đến chất lượng của mối hàn sau này.
Khi gá lắp nên hàn đính một số điểm để giữ vị trí tương đối của các chi tiết trong quá trình hàn. Chiều dài và khoảng cách giữa các mối hàn đính lấy như sau :

Đối với các chi tiết mỏng, chiều dài mối hàn đính là 4 – 5mm và nằm cách nhau một khoảng từ 50 đến 100mm. Đối với những chi tiết lớn, dày, chiều dài mối mối hàn đính là 20 – 30mm và cách nhau một khoảng từ 300 đến 500mm.

2. Chế độ hàn khí
Ngoài tốc độ hàn ra, các thông số công nghệ cơ bản của chế độ hàn khí là : góc nghiêng của mỏ hàn, công suất của ngọn lửa và đường kính que hàn phụ.

2.1 Góc nghiêng của mỏ hàn. Góc nghiêng của mỏ hàn so với bề mặt các chi tiết hàn phụ thuộc chủ yếu vào chiều dày và tính chất lý nhiệt của kim loại hàn. Chiều dày càng lớn, góc nghiêng phải càng lớn. Trên hình 1.1 giới thiệu sự phụ thuộc của góc nghiêng mỏ hàn alpha khi hàn thép cacbon và hợp kim thấp có chiều dày khác nhau.
Góc nghiêng của mỏ hàn có thể thay đổi trong quá trình hàn. Lúc đầu, để nung nóng kim loại được tốt và hình thành mối hàn nhanh, góc nghiêng của mỏ hàn có trị số lớn nhất (80 đến 90°). Trong quá trình hàn, góc nghiêng cần được thay đổi cho phù hợp với chiều dày và tính chất của kim loại hàn. Lúc gần kết thúc, để mối hàn được điền đầy và tránh sự chảy kim loại, phải giảm góc nghiêng của mỏ hàn xuống. Lúc đó, ngọn lửa hàn như trượt trên bề mặt các chi tiết (H.1.2)

Hình 1.1. Góc nghiêng alpha của mỏ hàn khi hàn thép cachon và hợp kim thép.

2.2 Công suất ngọn lửa hàn. Công suất này được tính bằng lượng khí cháy tiêu hao trong một giờ. Nó phụ thuộc chủ yếu vào chiều dày chi tiết hàn và tính chất lý nhiệt của kim loại cơ bản : chiều dày càng lớn, nhiệt độ nóng chảy và tính dẫn nhiệt của kim loại cơ bản càng cao, thì công suất của ngọn lừa hàn càng lớn, và ngược lại. Hàn thép cacbon và hợp kim thấp, công suất của ngọn lửa được xác định theo công thức kinh nghiệm sau :

Hình 1.2. Vị trí của mỏ hàn ở các giai đoạn khác nhau khi hàn thép có chiều dày trung bình a) Nung nóng trước khi hàn ; b) Giai đoạn hàn : c) Kết thúc hàn

Đối với phương pháp hàn phải :

Đối với phương pháp hàn trái :

trong đó, s là chiều dày của chi tiết hàn, mm.

Phải căn cứ vào công suất của ngọn lừa để chọn số hiệu đầu mỏ hàn một cách thích hợp.

2.3Que hàn phụ. Khi hàn các chi tiết mỏng có gấp mép thì không cần sử dụng que hàn phụ còn trong những trường hợp khác phải dùng que hàn phụ để bổ sung kim loại cho mối hàn. Que hàn phụ dùng để hàn thép cacbon và hợp kim thấp phải thỏa mãn các yêu cầu như : có đường kính tỷ lệ với chiều dày chi tiết hàn ; bé mặt phải sạch (không gỉ, không dính dầu mỡ và các chất bẩn khác) ; ít gây ra hiện tượng bắn tóe kim loại lỏng ra khỏi vũng hàn ; không chứa các chất phi kim và để tạo thành các bọt khí trong kim loại mối hàn.
Thông thường que hàn phụ có dạng dây, đường kính từ 0,3 đến 12mm. Khi hàn các chi tiết có chiều dày tới 15mm đường kính que hàn phụ d được chọn theo công thức kinh nghiệm sau :
Đối với phương pháp hàn trái :

Đối với phương pháp hàn phải :

Ở đây, S là chiều dày của chi tiết hàn, mm.
Khi hàn các chi tiết có chiều dày lớn hơn 15mm, đường kính que hàn phụ lấy bằng 6 – 8mm.

3. Chuyển động của mỏ hàn và que hàn phụ
Chuyển động của mỏ hàn và que hàn phụ có ảnh hưởng rất lớn đến việc hình thành mối hàn. Phải căn cứ vào vị trí của mối hàn trong không gian, chiều dày của chi tiết hàn, yôu cẩu vé kích thước của mối hàn để chọn chuyển động của mỏ hàn và que hàn phụ cho hợp lý.
Để thực hiện các mối hàn sấp bằng phương pháp hàn trái (không vát mép) khi chiều dày chi tiết nhỏ hơn 3mm hoặc lớn hơn một chút bằng phương pháp hàn phải, chuyển động thường dùng nhất của mỏ hàn và que hàn phụ như giới thiệu trên hình 1.3a.

Hình 1.3. Các chuyển động của mỏ hàn và que hàn phụ chuyển động của mỏ hàn ; 2. chuyển động của que hàn phụ

Khi thực hiện các mối hàn góc, để nhận được mối hàn bình thường nên chọn chuyển động của mỏ hàn và que hàn phụ như trên hình 1.3b.
Khi các chi tiết hàn có vát mép, thì mỏ hàn nằm sâu trong rãnh hàn (H.1.3c). Lúc này mỏ hàn chì có chuyển động dọc, còn dao động ngang là do que hàn phụ thực hiện.

Hàn khí vì có năng suất thấp nên ít khi sử dụng để hàn các chi tiết có chiều dày lớn. Song, nếu cần thiết phải sử dụng, thì mối hàn sẽ được thực hiện nhiều lớp theo thứ tự trình bày trên hình 1.3d.
Những chi tiết mỏng có uốn mép, khi hàn không cần sử dụng que hàn phụ để bổ sung kim loại cho nó. Chuyển động của mỏ hàn trong trường hợp này nén thực hiện theo hình xoắn ốc hay dao động hình sin như trên hình 1.e, g.

Bài viết liên quan